Đăng ký  |  Đăng nhập
Chào mừng bạn đến với Trang thông tin Điện tử Tổng công ty Điện lực miền Bắc
 
Ngành điện Việt Nam - Thuở ban đầu (Kỳ 7): Người Pháp đánh giá điện khí hóa ở miền Bắc (1892-1938)
 
2019-04-22 14:47:23

Sau khi xây dựng một số công trình nhà máy điện ở Việt Nam, từ những năm 1920 trở đi nền kinh tế Việt Nam phát triển chậm do chiến tranh, nhưng Pháp tiếp tục nghiên cứu điện khí hóa những khu vực trung tâm mới.

Phát triển lưới điện vùng kinh tế trọng điểm có tính toán kỹ đến khí hậu thời tiết

Ở Bắc Kỳ (theo cách gọi thời Pháp thuộc) đường dây tải điện Hà Nội - Hà Đông 3 pha 3.300V,34 Hz được xây dựng năm 1923, tần số cần thiết phục vụ cho Trung tâm vô tuyến điện Bạch Mai thời đó. Các năm 1924 - 1926 tiếp tục xây dựng các đường dây cao áp từ Hải Phòng cho Kiến An, Đồ Sơn. Trạm phát điện Quảng Yên được nối với các trạm của công ty mỏ và luyện kim. Điện khí hóa Nam Định, hình thành các lưới điện tại Hải Dương, Yên Bái, Lào Kai do chính quyền khai thác.

Khi xây dựng, người Pháp tính toán rất kỹ đến khí hậu, thời tiết ở Việt Nam. Do vậy việc xây dựng đường dây truyền tải điện có những vấn đề riêng biệt. Các trang bị cách điện đều tăng kích thước. Ví dụ: sứ cách điện loại 70.000V dùng cho đường dây vận hành ở 45.000V. Để tính đến áp lực chịu gió cao khi có bão, đường dây khi xây dựng phải tỉnh đến 280kg/m2 trong khi đường dây xâu dựng ở Châu Âu được tính với áp lực gió là 120kg/m2 bề phẳng


 
Công trường Nhà máy điện Yên Phụ năm 1925 (Nguồn ảnh: Trần Nguyên Hợi)

Đầu tư thiết bị hiện đại vào vận hành các nhà máy

Công ty Điện lực Đông Dương có 1 xưởng phát điện 5.500 kW tại hải Phòng, 1 xưởng hiện đại 15.000 kW ở Hà Nội, dự kiến mở rộng 40.000 kW. Các xưởng điện ở Hà Nội xây dựng vào 1924-1930 với 3 tổ máy, 8 lò hơi với trang bị tương thích với các trung tâm phát điện lớn nhất ở Châu Âu. Các nhà máy chuyển than bằng cơ khí, kiểm tra nhiệt liên tục, tự động điều chỉnh áp…Hệ thống liên lạc radio sóng ngắn hoạt động để đảm bảo tất cả mọi thao tác vận hành với mức an toàn nhất.

Để điện áp ổn định trên xuất tuyến cao áp, người Pháp đã trang bị thiết bị tự động điều khiển từ xa, các máy biến áp tăng áp đều được trang bị các bộ chuyển nối từng cấp hoạt động tự động dưới tải do các secvô - mô tơ được bộ điều áp điều khiển.

Tại các vùng Yên Bái, Lào Cai, Quảng Yên, Lai Châu, Bắc Kạn, Hà Giang, Hòa Bình do chính quyền khai thác. Tại Lạng Sơn, Cao Bằng, Hòn Gai do các doanh nghiệp tư nhân khai thác. Các trạm phát đều được tiêu chuẩn hóa dòng điện có dòng điện xoay 3 chiều 3 pha 120/208V, 50,Hz.

Tổng công suất điện phát ra của 12 khu vực Bắc Kỳ (Hà Nội, Hải Phòng, Lạng Sơn, Mon cay, Lao Cai, Cao Bằng, Hòa Bình, Yên Bái, Chapa, Bắc Kạn, Hà Giang, Lai Châu tổng cộng là 21.112 kW.

Nhu cầu tiêu thụ điện tăng cao

Ngành công nghiệp còn rất ít ở Bắc Kỳ để có thể trở thành nơi tiêu thụ điện lớn giống như ở Pháp Điện nên năng chủ yếu dùng cho ánh sáng, quạt, dân dụng. Trên mạng lưới của Công ty Điện Đông Dương, số lượng quạt vượt quá 20.500 (trong đó có 16.800 quạt trần). Tủ lạnh tăng nhanh, từ 500 chiếc năm 1937 lên 829 chiếc năm 1938.

Vào lúc này, người Pháp nhận thấy nhu cầu tiêu thụ điện tăng cao, yêu cầu mạng lưới phân phối điện phát triển nhanh và cần có nhiều chính sách phù hợp về biểu giá điện. Thời điểm đó biểu giá điện ở Hà Nội, Hải Phòng thấp hơn so với các tỉnh ở Pháp, An- giê- ri và các thuộc địa khác của Pháp.

 
Điện phục vụ các tuyến tàu điện liên tục ở Hà Nội (Trong ảnh: phố Hàng Đào)

Đồng thời khi đó, Công ty Điện lực Đông Dương đã nhận điện khí hóa tất cả các trung tâm vùng đồng bằng Bắc Kỳ qua các đường dây cao áp. Vùng này có một mạng lưới điện lớn cung cấp cho tất cả các trung tâm tỉnh lỵ, một số trung tâm vùng cao đã được điện khí hóa do chính quyền đảm nhiệm qua các trạm phát điện nhỏ địa phương. Việc đấu nối với lưới điện chung chưa thực hiện được do tốn kém.

Tại các trung tâm quan trọng như: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Hải Dương, một mạng lưới nhánh (cáp ngầm tại Hà Nội, Hải Phòng) đã được hình thành, phục vụ cho các trạm biến áp đủ để phân phối điện phù hợp.

    (Nguồn: Theo tài liệu sưu tầm của ông Trần Nguyên Hợi)
       Tố Vân (Văn phòng Công đoàn EVNNPC)

   
 

 
Tin cùng thư mục :
Top  |  Home