Đăng ký  |  Đăng nhập
Chào mừng bạn đến với Trang thông tin Điện tử Tổng công ty Điện lực miền Bắc
 
Ngành điện Việt Nam - Những chặng đường phát triển (Kỳ 12): Điện lực miền Nam giai đoạn 1954 - 1975
 
2019-06-11 12:48:28

Điện lực miền Nam giai đoạn 1954 - 1975.

Thời Pháp thuộc, Điện lực miền Nam hoàn toàn nằm trong tay các công ty tư bản độc quyền Pháp, trong đó có 3 Công ty lớn nhất là: Công ty Điện Đông Dương, Công ty nước và điện Đông Dương ( CEE), Công ty nước và điện Đông Dương cho miền Trung (SIPEA).

Tổ chức của điện lực liên tục thay đổi theo biến chuyển của thể chế.


Sau hiệp định Giơ ne vơ (1954), thực dân Pháp phải thu hẹp dần phạm vi nắm giữ các cơ sở sản xuất, phân phối và kinh doanh điện. Riêng vùng Sài Gòn - Chợ Lớn và Đà Lạt, Pháp còn nắm độc quyền đến hết 31/12/1967.Khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ, ngoài 50% tổng công suất điện do Pháp nắm, số còn lại quá nửa do Mỹ đầu tư dưới hình thức “viện trợ”. Giai đoạn này, chính quyền miền Nam chưa có khả năng làm chủ được ngành điện.

Ở miền Nam vẫn tồn tại 4 Công ty tư bản độc quyền điều hành sản xuất phân phối và kinh doanh điện: CEE tại Sài Gòn - Đà Lạt, SCEE tại các tỉnh miền Tây, UNEDI tại Vũng Tàu, Phan Thiết, SIPEA tại các tỉnh miền Trung.

Cơ quan “Quốc gia trung tư điện lực cuộc” thuộc Bộ Công chính (Sài Gòn) đã lập một chương trình khai thác các Nhà máy điện ANKROET hay còn gọi là Suối Vàng (1958), Quy Nhơn, Buôn Mê Thuột (1958), Quảng Ngãi, Tuy Hòa (1960), Vĩnh Long (1961), Mỹ Tho (1962).


 


Nằm sâu trong thung lũng Suối Vàng, nhà máy thủy điện Ankroet - nhà máy thủy điện đầu tiên của Việt Nam  (1942- 1945), chính thức phát điện năm 1946. Ngày nay vẫn tiếp tục được vận hành.
Đầu tư nhỏ giọt cho kế hoạch nâng cao nguồn cung cấp điện.

Suối Vàng là nhà máy Thủy điện đầu tiên ở miền Nam do Pháp xây dựng từ năm 1943, năm 1945 bắt đầu hoạt động. Công suất khai thác ban đầu đạt 250 kW/máy (02 máy). Sau đó cải tiến nâng lên 300 kW. Lúc đầu chỉ cung cấp điện cho thành phố Đà Lạt và phục vụ các quan chức người Pháp.

Năm 1958, Nhật Bản mở rộng bằng việc mua thêm của Pháp 2 tổ máy 1.250 MW và xây dựng đường dây 31,5 kV dài 53,5 km để chuẩn bị cho việc xây dựng Thủy điện Đa Nhim (160 MW). Công suất đạt 3.100 kW (1975). Do trục trặc kỹ thuật, nên sản lượng của Suối Vàng thường chỉ đạt 700.000 kWh/năm.

Chuẩn bị xây dựng và mở rộng nhiệt điện Thủ Đức (233 MW), năm 1964, cơ quan tự trị Điện lực Việt Nam được thành lập, thống nhất các cơ quan “Quốc gia trùng tu Điện lực cuộc”, “Dự án Đa Nhim”, “Dự án Thủ Đức”, vào một khối.

Cuối năm 1967, Sài Gòn Điện lực Công ty được thành lập để tiếp thu việc khai thác điện tại Sài Gòn và các vùng phụ cận. Năm 1969, ĐIỆN LỰC VIỆT NAM và SÀI GÒN ĐIỆN LỰC CÔNG TY sáp nhập thành CÔNG TY ĐIỆN LỰC VIỆT NAM, gọi tắt là CDV.

Chủ trương điện lực hóa miền Nam.

Trong kế hoạch 5 năm (1962 - 1966), Mỹ - Ngụy có chủ trương điện lực hóa miền Nam, trang bị thêm các máy Diezeen cho các nhà máy nhiệt điện cũ và các vùng ven Sài Gòn - Gia Định. Dự định lắp thêm cho Thủ Đức 01 máy Diezen công suất 18 MW, nâng tổng công suất ở vùng Sài Gòn - Gia Định lên 83 MW (1966), dự định đến năm 1967 tăng công suất vùng Sài Gòn – Gia Định lên 140 MW và các vùng lân cận khoảng 6 MW.


 

Sản lượng điện miền Nam năm 1960 mới có 286 triệu kWh, chủ yếu phục vụ vùng Sài Gòn - Gia Định khoảng 220 triệu kWh.

Thủy điện Đa Nhim và nhiệt điện Thủ Đức ra đời trong bối cảnh chiến tranh đặc biệt chuyển sang chiến tranh cục bộ ở miền Nam Việt Nam. Đường dây dẫn điện từ Đa Nhim về Sài Gòn vận hành không ổn định nên không tăng cường điện cho Sài Gòn - Gia Định và các vùng phụ cận như kế hoạch “Điện lực hóa” miền Nam đề ra. Mỹ Ngụy đã tăng cường các nhà máy đi e zen để lắp bổ sung cho các tỉnh lỵ, các vùng quân sự quan trọng, trong đó có vùng Sài Gòn - Gia Định và sân bay Tân Sơn Nhất.

Sau khi CDV ra đời, điện lực miền Nam được tăng trưởng 2 lần so với thời kỳ Bảo Đại trị vì, năm 1960 là 286 triệu kWh, năm 1074 lên 1.495 triệu kWh. Sản lượng điện bình quân đầu người là 20 - 64 kWh. Riêng Sài Gòn, mức tiêu thụ bình quân 80 kWh/người, tỷ lệ tiêu thụ điện chiếm 60 - 70 % sản lượng điện của toàn miền Nam.

    Năm 1974, tổng nguồn điện miền Nam có công suất đặt như sau: (ĐV: MW)

 

 

Thủy điện

 

 

 

Đi e zen đốt dầu

 

Gas tuabin

 

Tổng cộng

Fo

Do

163,8609

231,500

96,000

296,257

61,500

849,117


 Sau khi đất nước thống nhất ngày 30/4/1975, ta tiếp quản các cơ sở điên lực. Nhà máy Thủy điện Đa Nhim bị hư hỏng nặng, đường dây tải điện 230 kVB từ Đa Nhim về Sài Gòn (2577 km) không hoạt động được, tổng công suất chỉ còn 481 MW. Cụ thể:

 

TT

 

Nhà máy

 

Công suất đặt (MW)

 

Năm đưa vào sản xuất

1

Thủy điện Đa Nhim

160

1964

2

Nhiệt điện Thủ Đức

165

Xây dựng và mở rộng 1966 - 1972

3

Nhiệt điện Cần Thơ

33

4/1975

4

DIEZEEN Chợ Quán (Tổng các máy)

60,39

Rải rác lắp đặt, cải tạo, mở rộng… từ năm 1958 -1972 (gồm các vùng: Sài Gòn, Gia Định, Đồng Nai…)

5

Diezeen thuộc 15 tỉnh (vùng chiến thuật)

53,36

 

 

 

6

DEZEN Cần Thơ

6,30

 

7

Thủy điện Suối Vàng

3,10

Xây dựng 1943 – hoạt động 1945

 

 

Cộng

 

481,15

 

 


  Đầu tư phát triển lưới điện ở miền Nam.

Ở miền Nam giai đoạn 1954-1974 có 3 cấp điện áp: 230 kV, 66 kV, 15 kV. Trong ảnh: Lưới điện ở Thị xã Biên Hòa (Đồng Nai).

Tổng chiều dài lưới truyền tải là 800 km, trong đó đường dây 230 kV có 257 km, đường dây 66 kV có 543 km chia thành 3 khu vực vận hành độc lập: miền Đông, miền Tây, Cao Nguyên. Lưới phân phối tập trung ở Thành phố Sài Gòm và các tỉnh lỵ lớn. Cụ thể như sau:

    TBA 230 kV: 01 trạm, tổng dung lượng: 168 MVA.
    TBA 66 KV: 28 trạm, tổng dung lượng: 462 MVA
    Máy bù: 02 máy 19 MVAR
    Đường dây: 15 KV + 66 kV, tổng chiều dài: 2.402 km.
    Đường dây: 380V/220V/110V: dài 2.492 km.
    Trạm phân phối: 763, tổng dung lượng: 803 MVA.
    Tình hình cung cấp điện ở khu vực miền Trung

Riêng ở miền Trung, trước năm 1974, nguồn điện do SIPE và CDV quản lý. Toàn miền không có lưới truyền tải cao thế. Ngoài nhà máy điện Huế (năm 1951: 1.170 kW, do SIPEA quản lý), chính quyền thực dân Pháp và Mỹ - ngụy sau này chỉ quan tâm những trạm phát điện nhỏ. Ở các thị xã, thị trấn, đặc biệt là ở các tỉnh lỵ quan trọng, Mỹ - ngụy cho lắp đặt tới 150 tổ máy diezen. Vốn đã có nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, kỹ thuật, về điện lực, lại thêm thiên nhiên khắc nghiệt, chiến tranh triền miên suốt 30 năm, nên kinh tế cũng không phát triển được, đời sống do đó gặp nhiều khó khăn thiếu thốn. Cho đến thời điểm đất nước thống nhất, Điện lực miền Trung chỉ đạt bình quân 13 kWh/người/năm. 

Tố Vân (Văn phòng CĐ EVNNPC)

 
Tin cùng thư mục :
Top  |  Home