Đã có những hy sinh, khó nói hết bằng lời…
29/06/2025 17:15
Ngày 12/3/1967, máy bay Mỹ ném bom xuống Nhà máy Điện Việt Trì, 11 CBCNV Nhà máy kiên cường bám chốt đã anh dũng hy sinh. Ngày đó là ngày đau thương nhưng cũng rất đỗi tự hào trong ký ức mỗi cán bộ, công nhân viên Nhà máy. Những hy sinh, mất mát ấy khó có thể nói hết bằng lời.
“Bom đấy…”
Chúng tôi đến gia đình anh Hoàng Công Kỳ ở xã Thạch Sơn, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ vào đúng lúc bão số 1 đổ bộ vào đất liền. Mưa như trút nước, suốt từ sáng đến chiều không ngớt. Căn nhà cấp 4 của gia đình anh Kỳ nằm trong ngõ nhỏ. Anh Kỳ là con trai liệt sỹ Hoàng Công Mật, công nhân vận hành lò hơi đã hy sinh trong trận bom của giặc Mỹ ném xuống Nhà máy Điện Việt Trì ngày 12/3/1967. Liệt sỹ Hoàng Công Mật hy sinh ở tuổi 30, để lại người vợ trẻ và 3 đứa con thơ dại. Bố mất khi anh Kỳ mới 7 tuổi, chị gái anh 9 tuổi và một cô em gái rất nhỏ. Người em gái này sau đó cũng đã mất ở tuổi 18 do mắc bệnh hiểm nghèo.
Nỗi đau mất chồng và sức ép của bom đạn đã làm cho bà Trần Thị Tuất, vợ của liệt sỹ Hoàng Công Mật bị bệnh tâm thần. Khi chúng tôi đến nhà, bà toàn nói những chuyện không đầu không cuối, giống như người mắc chứng hoang tưởng, ám ảnh từ chiến tranh. “Bom đấy, có bom đấy, đấy!”. Bà Tuất thu người vào góc tối của chiếc giường nhỏ, chiếc chiếu cũ kỹ xô lệch, hở cả thang giường. Khi mọi người hỏi, năm nay bà bao nhiêu tuổi, bà Tuất cứ nắm tay thật chặt, giọng như trẻ thơ: “Em… em mười tuổi rồi, đấy, đấy”.
Theo anh Kỳ, gần năm mươi năm qua, mẹ anh vẫn luôn như vậy. Thời gian đầu, do chưa có thuốc chữa trị, bà thường đi lang thang, nhiều lần ngã thâm tím mặt mày, gãy cả răng, chảy máu bê bết. “Có lần, ngày mồng một Tết bà cũng đi. Cả nhà tá hỏa tỏa đi tìm, cuối cùng thấy bà co ro ngoài góc chợ, thương lắm…” - Anh Kỳ xúc động nhớ lại.
Bố mất khi còn quá nhỏ, anh Kỳ chỉ có thể biết được câu chuyện đau thương ngày trước qua lời kể của những người đồng đội, đồng nghiệp, cùng tham gia sản xuất, chiến đấu với cha của anh. Đó chính là ngày bom Mỹ đã cướp đi tính mạng của 11 CBCNV Nhà máy điện Việt trì, trong đó có cha của anh, liệt sỹ Hoàng Công Mật.
“Tan ca một giờ mà anh chưa về, là anh đã “đi” rồi!”
Tạm biệt gia đình anh Kỳ, từ Lâm Thao chúng tôi quay về thành phố, tới thăm gia đình ông Nguyễn Đình Phượng, sinh năm 1937, nguyên Tổ trưởng tổ Hàn - Nhà máy Điện Việt Trì. Với ông Phượng, ngày 12/3/1967 là một ngày quá đau thương, không sao quên đươc. Hôm ấy, ông Phượng được nghỉ theo ca, nên ở nhà chăm con ốm (18 tháng tuổi). Vợ ông là bà Hoàng Thị Thanh, làm cấp dưỡng ở Nhà máy đi ca 3 từ đêm hôm trước. Bình thường, đến 8 giờ sáng hôm sau là bà hết ca làm việc, trở về nhà. “Hôm đó vợ tôi đã về muộn, vì nhận làm tăng ca. Buổi trưa, hàng chục máy bay Mỹ đã ném bom xuống Nhà máy Điện Việt Trì. Ở nhà tôi thấy bụi than, khói bom bốc lên từ phía Nhà máy. Tôi linh tính điều chẳng lành và thầm kêu lên, thôi hỏng rồi! Đến khi tôi chạy ra Nhà máy thì thấy cảnh tượng thật kinh khủng và hết sức đau lòng. Nhà máy bị hư hỏng nặng. Chúng đã đánh sập 2 lò hơi, một nửa nhà phân phối 6kV, 2 máy biến áp tự dùng… Hàng trăm khối bê tông đổ sập đã vùi lấp nhiều CBCNV của Nhà máy, trong đó có vợ tôi, Hoàng Thị Thanh năm đó mới 25 tuổi…” - ông Phượng xúc động, giọng run run khi nhớ lại kỷ niệm quá đau thương về người vợ thân yêu và những đồng nghiệp thân thương đã hy sinh vì bom đạn của kẻ thù.

Cũng giống như ông Phượng, dù đã gần 50 năm trôi qua, bà Nguyễn Thị Tỉnh, sinh năm 1942, vợ của liệt sỹ Đào Kim Hài cũng không thể quên được ngày 12/3/1967 - ngày bom đạn giặc Mỹ đã cướp đi người chồng thân yêu của bà. “Ngày giặc ném bom vào Nhà máy, tôi mới sinh con được 2 tháng. Thấy khói từ Nhà máy bốc lên cao, tôi gửi con cứ thế chân đất, chạy bộ 5km ra Nhà máy tìm chồng. Tôi cứ đi hết chỗ này sang chỗ khác, mỏi mòn tìm kiếm đỏ mắt, gọi khản cả tiếng mà chẳng thấy chồng đâu. Mấy hôm trước, anh ấy linh tính sẽ có chuyện chẳng lành, nên cứ dặn đi dặn lại tôi: “Nếu mà sau khi tan ca một giờ không thấy anh về, là anh đã đi rồi!...” Vậy mà anh ấy đi thật”. Bà Tỉnh nghẹn ngào, nước mắt lưng tròng, đôi tay run run… Ngồi bên cạnh bà là chị Đào Kim Thịnh, hiện là nhân viên Điện lực thành phố Việt Trì - Đó chính là người con gái đã mất cha khi mới 2 tháng tuổi. Nhắc đến người cha đã hy sinh, mắt chị Thịnh đỏ hoe, nhòa lệ…

Những hy vọng mong manh
Trong số những người tất tả ngược xuôi tìm chồng trong Nhà máy buổi chiều ngày 12/3 định mệnh năm ấy, có bà Hoàng Minh Phú, vợ của liệt sỹ Nguyễn Văn Được. Bà Phú kể lại: “Tôi đã một tay bồng, một tay dắt hai con nhỏ ra Nhà máy tìm chồng. Lòng như lửa đốt, vừa đi vừa linh tính đến những điều chẳng lành. Bộ phận tìm kiếm đang cố gắng đào, bới, cắt những khối bê tông khổng lồ cứu người. Tâm trọng tôi cũng như các gia đình có người thân bị nạn, đều khắc khoải thấp thỏm trong lo sợ, cố bám một tia hy vọng, dù là rất mong manh: Cầu cho người thân của mình còn sống… Nhưng anh ấy và bao đồng nghiệp đã không bao giờ về nữa.”
Nén lại nỗi đau thương tưởng chừng như không thể vượt qua, được sự giúp đỡ của tập thể, bà Phú vừa nuôi dạy con trưởng thành, vừa sản xuất, công tác tốt. Mỗi lần thăm mộ chồng, bà lại thì thầm nhẩm đọc những vần thơ giản dị dành cho ông, liệt sỹ Nguyễn Văn Được:
Hoa thơm dệt mộ anh
Sắc hương ươm đất Tổ
Ánh điện ấm tình người
Em mãi là của anh…
Ông Đỗ Bá Nghị, nguyên kỹ thuật viên Phân xưởng Điện Nhà máy Điện Việt Trì, nguyên Giám đốc Nhà máy Thủy điện Thác Bà: "Sáng 12/3/1967, trời quang mây, nhiều tốp máy bay Mỹ từ phía Ba Vì lao tới, pháo ta bắn lên nổ ran, trận địa pháo 100 ly gần khu sơ tán khói bay mù mịt. Máy bay Mỹ dội bom xuống Nhà máy, một cột khói đen bùng lên và cuộn lại như một chiếc mũ khổng lồ. Đánh trả lũ "giặc trời" xâm lược trong ngày 12/3, Khẩu đội súng phòng không Nhà máy do Khẩu đội trưởng Lê Thị Cát và các nữ tự vệ Trương Thị Thành, Hoàng Thị Bằng đã cùng lực lượng phòng không Việt Trì kiên trì nổ súng bắn rơi 4 máy bay Mỹ".
PC - Phú Thọ ghi chép