Check icon

Success

Your request has been successfully submitted.

Tổng đài: 19006769

Tài liệu sinh hoạt chuyên đề: Đảm bảo việc làm, đời sống, thu nhập của người lao động; đặc biệt là người lao động các Ban Quản lý dự án, khối dịch vụ, trường học

I. BỐI CẢNH VÀ SỰ CẦN THIẾT
Ngành Điện là ngành kinh tế - kỹ thuật đặc thù, giữ vai trò quan trọng của nền kinh tế quốc gia. Đặc trưng của ngành là tính kỷ luật nghiêm ngặt, môi trường làm việc tiềm ẩn nhiều yếu tố nguy hiểm, độc hại, đi cùng là áp lực đảm bảo an ninh năng lượng. 

biac

Trong quá trình phát triển của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đội ngũ người lao động luôn giữ vai trò trung tâm, là lực lượng trực tiếp tổ chức sản xuất, vận hành hệ thống điện, triển khai các dự án nguồn và lưới điện, cung cấp dịch vụ kỹ thuật và đào tạo nguồn nhân lực cho ngành điện. Để người lao động vững tâm công hiến, việc làm, các chế độ, chính sách phải là chỗ dựa vững chắc và ổn định. Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay, EVN đang đứng trước những yêu cầu phát triển mới với nhiều thay đổi như:
- Quá trình chuyển dịch năng lượng;
- Chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ mới;
- Thực hiện tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước theo hướng tự chủ.
- Những thay đổi này tạo ra cơ hội phát triển nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức đối với tính ổn định về việc làm, thu nhập và đời sống của người lao động.
Đối với lực lượng lao động trong khối quản lý dự án, dịch vụ và cơ sở đào tạo so với lao động của toàn Tập đoàn chiếm không nhiều, khoảng 4,5%, nhưng có vai trò quan trọng trong hệ thống ngành Điện khi đảm bảo kịp thời các dự án cấp điện đúng tiến độ, đảm bảo đủ điện cho hệ thống điện, là cơ sở đào tạo nguồn nhân lực cho Tập đoàn. 
Thực trạng trong thời qua, việc làm và thu nhập ở các khối này có lúc, có nơi chưa đảm bảo do cơ chế trong tạo việc làm và nguồn tiền lương chưa phù hợp. Khối dịch vụ có lúc, có nơi chưa có việc làm do cơ chế thị trường, khối quản lý dự án không có dự án liên tục để thực hiện, khối trường học chưa có cơ chế chính sách rõ ràng khi chuyển từ đơn vị sự nghiệp công lập sang đơn vị sự nghiệp của doanh nghiệp. Thực tế thu nhập bình quân các đơn vị khối này không đồng đều, đa số thấp hơn lực lượng vận hành hệ thống điện.
Trong bối cảnh đó, nếu không có giải pháp kịp thời và đồng bộ, nguy cơ mất cân đối về thu nhập giữa các khối đơn vị, thiếu việc làm cục bộ tại một số thời điểm, cũng như xu hướng dịch chuyển lao động chất lượng cao sang khu vực ngoài ngành có thể gia tăng, ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển bền vững của EVN.
Vì vậy, việc xây dựng và triển khai Chuyên đề về “Bảo đảm việc làm, đời sống và thu nhập của người lao động, đặc biệt đối với các Ban Quản lý dự án, khối dịch vụ và các cơ sở đào tạo”, là yêu cầu cấp thiết nhằm giữ vững ổn định nội bộ, phát huy nguồn lực con người và nâng cao năng lực cạnh tranh của Tập đoàn trong giai đoạn mới.
II. THỰC TRẠNG VIỆC LÀM, ĐỜI SỐNG VÀ THU NHẬP CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG
Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy EVN và sự phối hợp của chuyên môn và các tổ chức đoàn thể việc làm của người lao động cơ bản được duy trì ổn định, không xảy ra biến động lớn về lao động. Các chế độ chính sách về tiền lương, bảo hiểm, phúc lợi xã hội được thực hiện đầy đủ và kịp thời. Thu nhập bình quân của người lao động từng bước được cải thiện. Công tác chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động được quan tâm, thông qua nhiều chương trình phúc lợi và hỗ trợ xã hội.
Đặc biệt, trong những năm gần đây, EVN đã từng bước điều chỉnh cơ chế tiền lương đối với một số khối đặc thù, bước đầu góp phần cải thiện thu nhập của người lao động tại các Ban Quản lý dự án.
Những kết quả trên đã góp phần quan trọng trong việc giữ vững sự ổn định của đội ngũ người lao động và bảo đảm hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn.
1. Lao động, việc làm và thu nhập của khối cơ sở đào tạo

Hiện nay, trong Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam có 03 cơ sở đào tạo: Trường Cao đẳng Điện lực miền Bắc thuộc EVNNPC, Trường Cao đẳng Điện lực miền Trung thuộc EVNCPC và Trường Cao đẳng Điện lực Thành phố Hồ Chí Minh thuộc EVNSPC, là 03 đơn vị trực thuộc các Tổng công ty được chuyển đổi từ 03 đơn vị sự nghiệp của EVN. 
- Tổng số lao động của 03 Trường CĐ khoảng 240 người.
- Việc làm của người lao động được đảm bảo. Cơ cấu việc làm của các Trường từ các nguồn sau:
+ Đào tạo ngắn hạn do các Tổng công ty giao chiếm chủ yếu. Trường nào được Tổng công ty giao nhiều sẽ chiếm tỉ trọng cao, tăng dần trong những năm gần đây (chiếm khoảng 70%).
+ Một số ít đào tạo ngắn hạn cho các đơn vị của Tổng công ty và ngoài.
+ Đào tạo chính quy dài hạn chiếm số ít do khó khăn trong cạnh tranh tuyển sinh với các cơ sở đào tạo ngoài thị trường hiện nay (khoảng 20%).
- Về thu nhập:
Trong giai đoạn 2021 - 2023, thu nhập bình quân của cán bộ, giảng viên, người lao động 03 Trường CĐ thấp hơn so với lao động SXKD điện; trừ CĐ Điện lực miền Bắc, thu nhập bình quân của CĐ Điện lực miền Trung và CĐ Điện lực TP HCM đều ở mức thấp hơn nhiều, cụ thể năm 2023 như sau: Miền Bắc là 19,8 triệu đồng/tháng; Miền Trung là 15,6 triệu đồng/tháng; TP HCM là 14,7 triệu đồng/tháng; năm 2024, Miền Bắc: 18,992 triệu đồng/tháng; TP HCM: 25,197 triệu đồng/tháng; Miền Trung: 10,7 triệu đồng/tháng. Theo đó, có sự thay đổi lớn đối với TP HCM khi tiền lương bình quân ở mức cao nhất và cao hơn tiền lương bình quân lao động SXKD điện năm 2024 của EVNSPC; trong khi tiền lương bình quân của Miền Trung thấp nhất, chỉ bằng trên 50% tiền lương bình quân lao động SXKD điện của EVNCPC.
Như vậy có thể thấy trong số 03 Trường CĐ, thì Miền Bắc và TP HCM về cơ bản đã đảm bảo ổn định thu nhập, đời sống cho đội ngũ giáo viên, cán bộ, nhân viên nhà trường; trong đó thu nhập bình quân đầu người hằng năm đều tăng, đời sống, môi trường làm việc của CBVC ngày càng được cải thiện những năm gần đây đã được cải thiện đáng kể, tạo tâm lý yên tâm công tác cho toàn thể CBVC nhà trường. Riêng Trường CĐ Điện lực miền Trung thì việc làm và thu nhập của người lao động còn gặp khó khăn, chỉ trên 10 triệu đồng/tháng.
Về nguồn quỹ lương của các Trường CĐ phụ thuộc vào nguồn công việc đào tạo và doanh thu của các Trường. Cơ cấu hiện nay nguồn thu và công việc chính của các trường đến từ việc đào tạo ngắn hạn theo nhiệm vụ giao của các Tổng công ty và định mức chi phí theo quy định của EVN. Nguồn thu của Trường CĐ Miền Bắc, TP HCM từ nguồn đào tạo ngắn hạn chiếm khoảng 70% nguồn thu, riêng Miền Trung chỉ chiếm tỉ trọng trên 50%.
2. Lao động, việc làm và thu nhập của khối quản lý dự án
Hiện nay, các đơn vị thuộc khối quản lý dự án trong Tập đoàn gồm có các ban của EVN và các Tổng công ty, với số lao động khoảng 2.000 người.
- Việc làm của người lao động được đảm bảo, thực hiện các dự án về nguồn điện, lưới điện của Tập đoàn và các Tổng công ty.
- Về thu nhập:
+ Tiền lương bình quân các Ban khoảng 22 triệu đồng/tháng, cao nhất có Ban QLDA Lưới điện phân phối TP HCM là 30 triệu.
+ Tiền lương bình quân có người lao động ở mức thấp là 12 triệu đồng/tháng.
Về thu nhập của người lao động khối quản lý dự án gặp nhiều khó khăn, không tăng trong giai đoạn 2021 đến 2025.
Về cơ cấu nguồn lương chủ yếu là chi phí quản lý dự án từ 70% trở lên và còn lại từ nguồn chi phí giám sát tự thực hiện và chi phí tự thực hiện khác.
3. Lao động, việc làm và thu nhập của khối dịch vụ
Hiện nay, các đơn vị thuộc khối dịch vụ trong Tập đoàn gồm có các công ty dịch vụ điện lực thuộc các Tổng công ty Điện lực và Công ty dịch vụ khối nguồn của Tổng công ty Phát điện 3.
- Tổng số lao động của khối dịch vụ hiện nay khoảng 3.000 người.
-  Việc làm của người lao động được đảm bảo. Cơ cấu việc làm của các khối dịch vụ từ các nguồn sau:
+ Khối dịch vụ điện lực có chức năng nhiệm vụ chính là: sửa chữa lớn, xây
lắp, thí nghiệm các công trình điện (theo phân cấp của Tổng công ty điện lực); gia công cơ khí, sửa chữa thiết bị điện; thực hiện các hoạt động dịch vụ điện lực
khác có liên quan như: tư vấn điện; giám sát thi công công trình điện; quản lý chỉnh
trang cáp viễn thông treo trên cột điện; quản lý vận hành, lắp đặt, sửa chữa điện mặt trời áp mái; dịch vụ lắp đặt sửa chữa điện sau công tơ; vận tải, kho bãi phục vụ vận hành và sửa chữa công trình điện,... 
+ Khối dịch vụ phát điện thực hiện các hoạt động sửa chữa các nhà máy điện của Tổng công ty và các nhà máy bên ngoài Tổng công ty.
- Về thu nhập:
+ Khối dịch vụ điện lực: Mức thu nhập có sự khác nhau ở các năm và ở các Tổng công ty, dao động khoảng từ 15 triệu đến trên 30 triệu. Nếu so với thu nhập của khối vận hành điện đều ở mức thấp hơn. Nguồn thu nhập đến từ công việc phục vụ sản xuất kinh doanh điện cũng khác nhau ở các Tổng công ty: EVNHANOI (0%, 100% từ nguồn sửa chữa lớn, tư vấn, xây lắp, giám sát thi công…; TP HCM (khoảng 70% và 30%); NPC (khoảng 25% và 75%); CPC (khoảng 30% và 70%).
+ Khối phát điện: Thu nhập ở mức cao hơn khoảng 30 triệu và cũng thấp hơn so với sản xuất điện của Tổng công ty, từ nguồn các công việc phục vụ sản xuất kinh doanh điện hơn 50% và còn lại từ nguồn nhân công sửa chữa lớn, tư vấn, xây lắp, giám sát thi công...
III. TỒN TẠI VÀ KHÓ KHĂN
1. Đối với các cơ sở đào tạo
Các cơ sở đào tạo của EVN có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cho ngành điện, cho chính các Tổng công ty, tuy nhiên hiện nay gặp nhiều khó khăn về việc làm và thu nhập:
- Việc làm phụ thuộc chủ yếu là đào tạo ngắn hạn cho chính các Tổng công ty giao nhiệm vụ. Việc tuyển sinh ngoài Tổng công ty gặp nhiều khó khăn do cơ chế cạnh tranh.
- Cơ chế tài chính thực hiện theo hướng dẫn của EVN tại Công văn số 4903/EVN-TCKT, xây dựng cơ chế thực thanh thực chi, dự toán được xây dựng theo Quyết định số 1160/QĐ-EVN ngày 26/8/2021 của EVN về chế độ biên soạn bài giảng học tập và mức chi phí cho các lớp bồi dưỡng ngắn hạn trong Tập đoàn. Tuy nhiên, các đơn giá trong Quyết định 1160 là đơn giá mang tính hỗ trợ đối với giảng viên nội bộ, các nguồn hình thành quỹ lương theo đơn giá này rất khó để đảm bảo nguồn quỹ lương ổn định. 
- Một số khoản chi khác như khấu hao tài sản cố định, chi phí thường xuyên, đầu tư xây dựng, sửa chữa lớn... chưa được quy định rõ, nên có Trường CĐ đã phải trích trong doanh thu, ảnh hưởng đến tiền lương cho người lao động.
2. Đối với các Ban Quản lý dự án
- Việc làm của Ban quản lý dự án được giao không đều, theo Quy hoạch Điện VIII còn nhiều dự án chưa giao chủ đầu tư sẽ khó khăn cho EVN và các Tổng công ty giao đủ nhiệm vụ cho các Ban quản lý dự án đảm bảo việc làm cho người lao động.
- Trước năm 2025, nguồn chi phí tiền lương và chi phí hoạt động của Ban quản lý dự án còn thiếu do định mức chi phí quản lý dự án theo tỉ lệ với tổng mức đầu tư các dự án theo quy định của Nhà nước rất thấp và thời gian chuẩn bị dự án kéo dài nên khó khăn trong thu nhập của người lao động. Hiện nay, một số Ban quản lý dự án của Tổng công ty chưa nhập chung quỹ tiền lương của doanh nghiệp để đảm bảo thống nhất tiền lương của người lao động thực hiện nhiệm vụ đảm bảo sản xuất kinh doanh điện, đảm bảo cung cấp đủ điện cho nền kinh tế và đời sống của Nhân dân.
3. Đối với khối dịch vụ
- Công việc của khối dịch vụ chủ yếu phụ thuộc vào giao nhiệm vụ của các Tổng công ty, việc tìm kiếm công việc bên ngoài còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế, do phải cạnh tranh.
- Đơn giá tiền lương để lập dự toán, nhân công các công trình SCL, trạm chuyên dùng thấp so với chi phí tiền lương thực tế phải chi trả cho đội ngũ công nhân xây lắp (bậc thợ cao), nên quỹ tiền lương hình thành từ nguồn thu của các hoạt động này không đủ bù đắp chi phí tiền lương phải trả cho công nhân xây lắp cơ hữu, chưa tính các chi phí khác liên quan (chi phí lương nhân viên gián tiếp, chi phí khác).
- Đơn giá nhân công chưa thống nhất đối với NLĐ làm công tác sửa chữa lớn và SXKD điện, giữa các địa phương khác nhau (do thực hiện theo mô hình sửa chữa tập trung, nguồn nhân lực được điều phối linh hoạt giữa các Phân xưởng tại các địa
phương có đơn giá nhân công sửa chữa lớn khác nhau).
IV. GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ
1. Đối với các cơ sở đào tạo
Để đảm bảo việc làm và thu nhập của người lao động khối cơ sở đào tạo, cần có các cơ chế như sau:
- Khẳng định rõ và duy trì mô hình hoạt động của 03 Trường CĐ như hiện nay là các đơn vị trực thuộc các Tổng công ty, cơ chế về quản lý, tài chính thực hiện theo quy định pháp luật doanh nghiệp, chỉ tuân thủ quy định của Nhà nước về Luật Giáo dục nghề nghiệp đối với hoạt động đào tạo chính quy dài hạn để phù hợp với mục đích thành lập và duy trì các Trường phục vụ cho công tác đào tạo nguồn nhân lực cho Tổng công ty. Không đặt nặng việc tuyển sinh đào tạo dài hạn phục vụ xã hội và đào tạo ngắn hạn cho các đơn vị ngoài Tổng công ty. Tập trung việc đào tạo nguồn nhân lực cho Tổng công ty và các đơn vị trong Tập đoàn (nếu có).
- Các Tổng công ty tiếp tục giao các Trường CĐ tổ chức tối đa các chương trình đào tạo tập trung của Tổng công ty, các chương trình đào tạo của các đơn vị thành viên; tiếp tục giao kế hoạch doanh thu, chi phí hàng năm cho các Trường CĐ, đảm bảo cân đối thu chi, thống nhất tiền lương người lao động trong doanh nghiệp, đảm bảo các chi phí của Trường như một bộ phận, đơn vị trực thuộc của doanh nghiệp.
- Tập đoàn rà soát, sửa đổi, bổ sung Quyết định 1160; trong đó xem xét bổ sung định mức chi phí giờ giảng, chi phí biên soạn đối với giảng viên chuyên nghiệp của các Trường CĐ, bổ sung chi phí phục vụ, khấu hao tài sản vào dự toán, hợp đồng các khóa đào tạo, rà soát hiệu chỉnh các mục chi khác phù hợp với thực tế hiện nay.
2. Đối với các Ban Quản lý dự án
- Đảm bảo việc làm cho các Ban quản lý dự án: Tập đoàn và các Tổng công ty triệt để giao các Dự án cho các Ban của Tập đoàn và Tổng công ty. Mục đích thành lập Ban quản lý dự án là để thực hiện các dự án của Tập đoàn và Tổng công ty. EVN nghiên cứu đề xuất Chính phủ giao EVN và các Tổng công ty làm chủ đầu tư các dự án trong Kế hoạch thực hiện Quy hoạch điện VIII và giao các Ban quản lý dự án làm đại diện chủ đầu tư. Khi khối lượng các dự án giảm, EVN và các Tổng công ty cần kịp thời sắp xếp, thu gọn các Ban quản lý dự án để đảm bảo phù hợp với khối lượng công việc.
- Tập đoàn chỉ đạo các Tổng công ty thực hiện nghiêm cơ chế tiền lương thống nhất của doanh nghiệp để bảo đảm thu nhập cho người lao động của Ban quản lý dự án và tương đương với người lao động sản xuất kinh doanh điện.
- Tập đoàn tiếp tục kiến nghị xem xét cấp có thẩm quyền điều chỉnh tỷ lệ định mức chi phí quản lý dự án phù hợp với đặc thù các dự án của ngành điện; có hệ số tăng thêm đối với các dự án thực hiện từng vùng và các dự án có vướng mắc kéo dài; chi phí nhân công phù hợp với mức lương cơ sở vùng/tiền lương tham chiếu; bổ sung các chi phí chưa đề cập trong quy định tại khoản 1 Điều 30 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 09/02/2021 của Chính phủ, trong đó đặc biệt là chi phí không thường xuyên trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án. Trước mắt, Tập đoàn tiếp tục báo cáo, giải trình cấp có thẩm quyền để được điều chỉnh chi phí quản lý dự án theo hướng lập dự toán chi tiết phù hợp với thời gian thực hiện dự án.
3. Đối với khối dịch vụ
- Xem xét không hình thành khối dịch vụ, đối với công việc thuộc sản xuất kinh doanh điện giao cho bộ phận quản lý vận hành hệ thống điện thực hiện bằng việc bổ sung nguồn nhân lực từ khối dịch vụ hoặc tuyển dụng đảm bảo đầy đủ. Mục đích thành lập bộ phận dịch vụ là để tham gia thị trường thực hiện các công việc có tính chất dịch vụ, tuy nhiên vấn đề này là không cần thiết đối với Tập đoàn và các Tổng công ty khi nhiệm vụ chính là tập trung vào sản xuất kinh doanh điện, đảm bảo đủ điện cho nền kinh tế của đất nước và đời sống của Nhân dân.
- Triệt để thuê ngoài đối với các công việc có thể thuê ngoài, không nên hình thành khối dịch vụ để thực hiện những công việc này. Đối với những nhóm công việc nhỏ, gọn ít thì để các bộ phận của đơn vị thực hiện cùng nhiệm vụ sản xuất kinh doanh điện.
- Trong khi chưa sắp xếp và vẫn hình thành khối dịch vụ cần phải triệt để giao việc cho khối dịch vụ và tinh gọn bộ máy để đảm bảo thu nhập cho người lao động tương đương với sản xuất kinh doanh điện.


TGĐU