Check icon

Success

Your request has been successfully submitted.

Tổng đài: 19006769

Tài liệu sinh hoạt chuyên đề: Phát triển, ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số toàn diện theo hướng chuyển dịch chuyển đổi xanh, bền vững

Trong bối cảnh bùng nổ của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và xu thế toàn cầu về phát triển bền vững, "Chuyển đổi kép" (Twin Transitions) - sự lồng ghép biện chứng giữa Chuyển đổi số và Chuyển đổi xanh - đã trở thành động lực then chốt quyết định sự sống còn và bứt phá của mọi nền kinh tế. Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị đã định vị rõ ràng tư duy chiến lược mới: Kinh tế nhà nước là lực lượng vật chất đặc biệt quan trọng, giữ vai trò chủ đạo, định hướng và là "lực kéo chiến lược" để dẫn dắt, lan tỏa nền kinh tế bước vào kỷ nguyên phát triển mới. 

Evnspc-2609-2

Là doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò xương sống trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đang đứng trước cơ hội và thách thức lớn  đó là sự phát triển mạnh mẽ của các nguồn năng lượng tái tạo (NLTT) cao đang đặt hệ thống điện Việt Nam trước những thách thức kỹ thuật chưa từng có. Để hóa giải mâu thuẫn giữa việc gia tăng quy mô nguồn điện sạch và yêu cầu giữ vững tính an toàn, ổn định của lưới điện truyền tải, EVN cần ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo (ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) toàn diện không còn là giải pháp tình thế, mà là nhiệm vụ chính trị cốt lõi, thể hiện quyết tâm tự lực, tự cường của toàn Đảng bộ Tập đoàn nhằm bảo vệ an ninh năng lượng quốc gia và hiện thực hóa cam kết Net Zero vào năm 2050 của Chính phủ.

Với tinh thần các nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị, đặc biệt là Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển KHCN, ĐMST và CĐS quốc gia; Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, và Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 về phát triển kinh tế nhà nước, bám sát các mục tiêu và giải pháp của Trung ương, Đảng ủy Tập đoàn đã ban hành các văn bản chỉ đạo quan trọng, định hình toàn bộ lộ trình phát triển KHCN, ĐMST và CĐS của EVN theo hướng chuyển đổi xanh đó là: 

1. Xây dựng và phát triển EVN thông minh, bền vững trên cơ sở chuyển đổi số toàn diện, phát triển mạnh mẽ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, ứng dụng sâu rộng các công nghệ số như trí tuệ nhân tạo, IoT, điện toán đám mây…v.v. trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn (Chương trình hành động số 40-CTr/ĐU ngày 24/02/2025 thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia).

2. Bảo đảm cung ứng điện an toàn, ổn định cho nền kinh tế và đời sống nhân dân; Tăng tốc đầu tư xây dựng nguồn và lưới điện theo quy hoạch; Quản trị doanh nghiệp minh bạch, tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; Tiếp tục đẩy mạnh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; Đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (Chương trình hành động số 04-CTr/ĐU 24/11/2025 về thực hiện Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng Quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045).

3. Đến năm 2030 trở thành Tập đoàn kinh tế nhà nước mạnh, quy mô lớn, có nền quản trị hiện đại, giữ vai trò tiên phong, dẫn dắt trong ngành điện lực Việt Nam; phấn đấu vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới góp phần thực hiện mục tiêu quốc gia; Áp dụng các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp theo chuẩn OECD; Hoàn thiện mô hình quản trị số, ứng dụng quản trị doanh nghiệp trên nền tảng số; Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn; năng suất lao động;  Hoàn thành cơ cấu lại doanh nghiệp theo hướng tinh gọn, tập trung vào lĩnh vực cốt lõi; Hình thành năng lực nghiên cứu - phát triển công nghệ chiến lược ngành điện; Từng bước tham gia chuỗi giá trị khu vực; mở rộng hợp tác và đầu tư ra nước ngoài có chọn lọc (Chương trình hành động số 09-CTr/ĐU ngày 21/3/2026 của Đảng ủy EVN về thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước).

Hướng đến trở thành một Tập đoàn mạnh, quản trị hiện đại và nằm trong top 500 thế giới, EVN cần phải định vị vai trò của hoạt động phát triển KHCN và ĐMST, CĐS như một trụ cột chiến lược, chuyển từ mô hình ứng dụng công nghệ sang mô hình làm chủ, phát triển và đổi mới sáng tạo.

I. Kết quả phát triển, ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của EVN giai đoạn 2021-2025

Trong giai đoạn 2021-2025, EVN đã chủ động và tích cực triển khai chương trình Chuyển đổi số và các hoạt động nghiên cứu KHCN trong toàn Tập đoàn và đã có nhiều kết quả tích cực, đóng  góp một phần trong mục tiêu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Tập đoàn. EVN luôn tiên phong trong khối doanh nghiệp nhà nước hoàn thành các nhiệm vụ của Chính phủ giao như Đề án 06, triển khai dịch vụ điện trên cổng dịch vụ công quốc gia, đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt,… Năm 2025, EVN đã được Ủy ban quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp công nhận kết quả đánh giá với mức điểm trưởng thành số là 81.89 điểm (tương ứng mức 4 theo hướng dẫn trong QĐ số 1258/QĐ-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông).

1. Chuyển đổi số toàn diện

EVN hoàn thành triển khai Hệ sinh thái số EVNConnect từ năm 2021 với mục tiêu tăng cường kết nối với các nền tảng chuyển đổi số của Chính phủ, các Bộ, ngành Thuế, các địa phương và các đối tác, để khai thác tối đa nguồn dữ liệu chung của quốc gia và cung cấp dịch vụ điện trên các nền tảng số này. Hoàn thành triển khai Đề án 06 của Chính phủ, EVN thực hiện cải cách hành chính, đơn giản hóa các thủ tục, ứng dụng chuyển đổi số bằng cách cung cấp 100% dịch vụ điện trên Cổng DVCQG, khai thác thông tin từ CSDL Quốc gia về dân cư.

1.1. Các công cụ phục vụ cho QTDN của Tập đoàn cũng đã được xây dựng, nâng cấp đưa vào sử dụng, cùng với việc thực hiện chuyển đổi số trong tất cả các lĩnh vực hoạt động đã phục vụ tốt công tác quản lý, điều hành hoạt động SXKD của Tập đoàn; góp phần tích cực trong việc nâng cao hiệu quả SXKD và năng suất lao động trong toàn Tập đoàn. Đến nay, toàn Tập đoàn áp dụng thống nhất hệ thống D-Office, ERP, HRMS, chữ ký số được sử dụng trên hệ thống D-Office và trong nhiều hoạt động khác như ĐTXD, quản lý kỹ thuật, vận hành, KD&DVKH.

1.2. Trong hoạt động kinh doanh dịch vụ khách hàng: Tích hợp định danh điện tử, thực hiện số hóa hồ sơ và khai thác hồ sơ điện tử của công dân và doanh nghiệp đã giúp người dân/khách hàng thuận tiện, tiết kiệm chi phí, thời gian đi lại, không phải in ấn, bảo quản, lưu trữ tài liệu giấy, rút ngắn thời gian cung cấp điện đến khách hàng kể từ khi tiếp nhận yêu cầu. Đẩy mạnh thanh toán điện tử bằng cách kết nối đến các ngân hàng lớn và tổ chức trung gian thanh toán phục vụ công tác thanh toán không sử dụng tiền mặt, với các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, tỷ lệ thanh toán điện tử đạt 98,56%. Đến nay, EVN đã không còn thu ngân viên đến nhà khách hàng để thu tiền điện. 

1.3. Trong công tác ĐTXD, đã đưa vào triển khai phần mềm quản lý ĐTXD - IMIS2.0 với 23 phân hệ phục vụ công tác quản lý ĐTXD trong toàn Tập đoàn, ứng dụng "Mô hình trí tuệ nhân tạo phân tích hình ảnh để xác định bất thường, đánh giá chất lượng trong các bước thi công các dự án lưới điện trung áp". Đẩy mạnh áp dụng số hóa công tác phê duyệt tài liệu thiết kế, công tác giám sát thi công nâng cao chất lượng thi công công trình, triển khai nhật ký, biên bản thi công và thẩm tra thẩm định.

1.4. Trong lĩnh vực sản xuất điện

- Tăng cường chất lượng dữ liệu của cơ sở dữ liệu thiết bị, qua đó ứng dụng phương pháp (RCM/CBM) trong bảo dưỡng thiết bị của nhà máy, truyền tải và phân phối góp phần nâng cao độ khả dụng và khả năng đáp ứng của các tổ máy, ngăn ngừa sự cố, nâng cao độ tin cậy cung cấp điện.Từng bước ứng dụng công nghệ số trong giám sát vận hành tổ máy, tối ưu hóa hiệu suất và quản lý bảo trì. Một số nhà máy đã triển khai hệ thống giám sát trực tuyến, phân tích dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo bước đầu phục vụ chẩn đoán sự cố. 

 - Ứng dụng tự động hóa trạm biến áp không người trực, giám sát thiết bị Online: các Tổng công ty Điện lực đã đẩy mạnh triển khai hệ thống SCADA/ DMS, công tơ điện tử đo xa, hoàn thành 34 trung tâm điều khiển xa tại các tỉnh, 100% trạm 110 kV đạt trạm không người trực. Triển khai 04 trung tâm điều khiển tại 04 Công ty Truyền tải, hoàn thành chuyển đổi 100% trạm không người trực cấp điện áp 220 kV (hiện tại đạt tỷ lệ 97,1%), thực hiện chuyển đổi các trạm biến áp 500 kV đủ điều kiện sang trạm không người trực. 

- Ứng dụng UAV, robot kiểm tra đường dây, camera thông minh trong việc kiểm tra, giám sát vận hành hệ thống lưới điện từ 110kV đến 500kV, kết hợp trang bị với ứng dụng hiện trường (Digital Workforce) cho 100% người lao động đã tiết kiệm được nhân công, thời gian hao phí, tăng năng suất lao động.

2. Công tác phát triển KHCN

Trong giai đoạn vừa qua, hoạt động Khoa học công nghệ (KHCN) trong EVN đã có những bước chuyển biến tích cực, từng bước gắn với hoạt động sản xuất kinh doanh, vận hành hệ thống điện. Công tác quản lý KHCN đã được kiện toàn thông qua việc ban hành các quy chế, quy định quản lý nhiệm vụ KHCN. Các đơn vị thành viên đã chủ động triển khai nhiều đề tài nghiên cứu, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, giải pháp số hóa phục vụ vận hành hệ thống điện, tối ưu hóa công tác quản lý kỹ thuật và nâng cao năng suất lao động. Hoạt động KHCN ngày càng gắn với nhu cầu thực tiễn của sản xuất, đặc biệt trong các lĩnh vực như tự động hóa, phân tích dữ liệu vận hành, bảo trì dự báo và quản lý tài sản góp phần vào nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, giảm sự cố, tối ưu chi phí vận hành và nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng. Nhiều sáng kiến kỹ thuật có giá trị đã được áp dụng rộng rãi, góp phần tiết kiệm chi phí và nâng cao độ tin cậy hệ thống điện.

3. Đánh giá

Hoạt động KHCN trong EVN vẫn còn mang tính chất phân tán và đang tập trung nhiều ở mức độ nghiên cứu và quản lý đề tài, sáng kiến. Tính liên kết nghiên cứu - ứng dụng - thương mại chưa cao, chưa hình thành được mạng lưới trong hoạt động khoa học công nghệ, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo chưa đồng bộ.

Trước yêu cầu chuyển dịch năng lượng, phát triển lưới điện thông minh và chuyển đổi số toàn diện, hoạt động KHCN của EVN vẫn còn một số hạn chế như: (i) Thiếu các chương trình nghiên cứu trọng điểm mang tính dài hạn; (ii) Nguồn lực đầu tư cho KHCN chưa tương xứng với quy mô và yêu cầu phát triển; (iii) Cơ chế khuyến khích đổi mới sáng tạo chưa đủ mạnh; (iv) Năng lực nghiên cứu công nghệ lõi và làm chủ công nghệ chiến lược còn hạn chế; (v) Chưa có định hướng phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo rõ ràng.

II. Phát triển, ứng dụng mạnh mẽ KHCN, ĐMST và CĐS toàn diện theo hướng chuyển dịch chuyển đổi xanh, bền vững.

Trong bối cảnh kỷ nguyên số đang làm thay đổi toàn diện phương thức lao động và sản xuất, việc xây dựng và thực hiện quản trị doanh nghiệp hiện đại trên nền tảng số là xu thế tất yếu, khách quan để đảm bảo sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. EVN cần phải định vị vai trò của hoạt động phát triển KHCN và ĐMST như một trụ cột chiến lược, chuyển từ mô hình ứng dụng công nghệ sang mô hình làm chủ, phát triển và đổi mới sáng tạo công nghệ.

Xây dựng và phát triển một "EVN thông minh, bền vững" trên cơ sở quản trị doanh nghiệp hiện đại trên nền tảng số bằng cách ứng dụng sâu rộng, đồng bộ các công nghệ số thế hệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), điện toán đám mây (Cloud)... v.v. vào mọi hoạt động hướng đến Quản trị số thông minh, Vận hành hệ thống điện thông minh, Dịch vụ khách hàng thông minh, Tổ chức và con người thông minh, xanh và bền vững.

Đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là chìa khóa then chốt để hóa giải các rào cản kỹ thuật của chuyển dịch xanh, hình thành năng lực nghiên cứu - phát triển công nghệ chiến lược ngành điện để tự chủ công nghệ.

1. Xây dựng và phát triển "EVN thông minh, bền vững"

 EVN đã chủ động, khẩn trương triển khai nhiệm vụ theo Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; theo đó, Đảng ủy EVN đã ban hành Chương trình hành động số 40-CTr/ĐU ngày 24/02/2025 về việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW; HĐTV EVN đã có Nghị quyết số 65/NQ-HĐTV ngày 27/02/2025 phê duyệt Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam; Tập đoàn đã có văn bản số 2686/EVN-VTCNTT ngày 25/4/2025 giao các nhiệm vụ phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đợt 1 năm 2025 cho đơn vị triển khai 57 nhiệm vụ với 05 nhóm nhiệm vụ: (i) Nhóm nhiệm vụ về giám sát, điều khiển, tự động hóa; (ii) Nhóm nhiệm vụ về phát triển phần mềm, ứng dụng & quản lý dữ liệu; (iii) Nhóm nhiệm vụ về ứng dụng công nghệ (AI, IoT, Big Data, Flycam, Robot...); (iv) Nhóm nhiệm vụ về hạ tầng số và dịch vụ CNTT; (v) Nhóm nhiệm vụ về triển khai hoạt động KHCN, ĐMST. 

1.1. Xây dựng quản trị doanh nghiệp hiện đại trên nền tảng số

- Quản trị số thông minh tại EVN có thể được hiểu là quá trình chuyển đổi toàn diện mô hình quản trị doanh nghiệp theo hướng số hóa sâu rộng, ứng dụng công nghệ số tiên tiến và khai thác giá trị của dữ liệu lớn, nhằm xây dựng một hệ thống quản trị minh bạch, tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực và hiệu quả, đáp ứng các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp hiện đại theo chuẩn OECD.

- Đây không chỉ là việc áp dụng công nghệ để số hóa các quy trình truyền thống, mà là sự thay đổi căn bản về tư duy quản trị, từ mô hình quản trị thủ công sang quản trị dựa trên dữ liệu (data-driven governance), kết hợp chặt chẽ giữa chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi xanh.

- EVN nghiên cứu xây dựng hệ sinh thái số tích hợp toàn Tập đoàn, làm nền tảng trung tâm cho công tác quản trị. Hệ thống này kết nối đồng bộ các hoạt động quản trị nội bộ, đầu tư xây dựng, sản xuất kinh doanh và dịch vụ khách hàng, tạo ra môi trường làm việc số liền mạch.

- Xây dựng hệ thống quản trị tuân thủ (Compliance) trên nền tảng số. Áp dụng các giải pháp số trong quản trị rủi ro, kiểm toán nội bộ và tuân thủ pháp luật. Việc công bố thông tin được thực hiện theo hướng minh bạch cao, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về báo cáo thường niên và báo cáo ESG.

1.2. Vận hành hệ thống điện thông minh

Vận hành hệ thống điện thông minh (Smart Power System Operation) là một trong những thành phần cốt lõi của mô hình EVN thông minh. Đây là quá trình áp dụng các công nghệ số tiên tiến nhằm giám sát, điều khiển, tối ưu hóa và tự động hóa toàn bộ chuỗi hoạt động của hệ thống điện từ khâu sản xuất, truyền tải, phân phối đến tiêu thụ điện năng.
Trong giai đoạn tới, EVN  nghiên cứu mở rộng quy mô lưới điện thông minh trên toàn quốc, nâng cao khả năng giám sát thời gian thực, điều khiển từ xa và tự động hóa lưới điện, tăng cường an ninh mạng cho hạ tầng điều khiển công nghiệp (OT Security) và nâng cao khả năng tự cân bằng của hệ thống trong bối cảnh tỷ lệ năng lượng tái tạo ngày càng cao. Khai thác tối đa nguồn dữ liệu từ công tơ điện tử đo xa nhằm hỗ trợ dự báo phụ tải chính xác, phát hiện mất cân bằng và vi phạm tiêu thụ điện. 

Nghiên cứu các giải pháp tích hợp các nguồn điện mặt trời, gió, thủy điện nhỏ và hệ thống lưu trữ năng lượng (BESS) giúp duy trì sự ổn định của lưới điện trong bối cảnh tỷ trọng năng lượng tái tạo ngày càng tăng cao.

1.3. Dịch vụ khách hàng thông minh

Dịch vụ khách hàng thông minh tại EVN thể hiện rõ tinh thần "lấy khách hàng làm trung tâm", chuyển từ mô hình phục vụ truyền thống sang mô hình phục vụ số, thông minh, tiện lợi và minh bạch, góp phần quan trọng vào việc xây dựng EVN thông minh, bền vững theo các nghị quyết của Đảng.  

Trong thời gian tới, EVN tiếp tục hoàn thiện hệ sinh thái dịch vụ khách hàng số thống nhất trên toàn quốc, hướng tới: Cá nhân hóa trải nghiệm khách hàng sâu hơn bằng phân tích dữ liệu lớn; Tích hợp sâu hơn với các nền tảng số quốc gia và Phát triển các dịch vụ giá trị gia tăng (tư vấn tiết kiệm điện thông minh, quản lý năng lượng cho doanh nghiệp…).

2. Phát triển KHCN và ĐMST

Tập đoàn đã nghiên cứu xây dựng và trình HĐTV EVN xem xét phê duyệt "Định hướng phát triển Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo đến năm 2030 của Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam", với các nội dung chính sau:

2.1. Mục tiêu tổng quát 

Phát triển KHCN và ĐMST kết hợp với Chuyển đổi số để đưa EVN là doanh nghiệp hàng đầu trong khu vực về nghiên cứu, ứng dụng KHCN và ĐMST trong lĩnh vực điện lực, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

2.2. Mục tiêu cụ thể 

- Tập trung nghiên cứu và từng bước làm chủ một số khâu/công đoạn hoặc toàn bộ các công đoạn của các công nghệ theo từng cấp độ : (i) Làm chủ năng lực vận hành; (ii) Bảo trì, bảo dường, sửa chữa; (iii) Tích hợp hiệu chỉnh trên cơ sở nghiên cứu, ứng dụng, triển khai các công nghệ: HVDC, BESS, hệ thống điều khiển - giám sát, một phần thiết bị điện trong điện hạt nhân, điện gió ngoài khơi và các công nghệ điện lực khác.

- Thành lập Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển (R&D) và trang bị công cụ nghiên cứu để tiến đến trở thành "Innovation Hub" của ngành Điện lực Việt Nam nhằm: (i) Thử nghiệm các công nghệ năng lượng mới và thiết kế các phương pháp sáng tạo để tích hợp vào lưới điện; (ii) Thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất kinh doanh với nghiên cứu triển khai và đào tạo; (iii) Thiết lập mạng lưới hợp tác nghiên cứu với các đối tác công nghệ hàng đầu thế giới, hợp tác và giáo dục để tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới.

- Phấn đấu đạt: (i) Nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo đạt 12 người/10.000 lao động ; (ii) Có tối thiểu 01 đăng ký sáng chế (hoặc giải pháp hữu ích)/năm/100 nhân viên nghiên cứu khoa học  , duy trì danh mục từ 03 - 05 bằng độc quyền sáng chế đang có hiệu lực; (iii) Tỷ lệ khai thác thương mại từ hoạt động nghiên cứu đạt (8-10)% .

-   Xây dựng các đơn vị đủ năng lực sản xuất, chế tạo các sản phẩm thiết bị điện công nghệ cao phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu cụ thể là các thiết bị như máy biến áp, các thiết bị bù, kháng, thiết bị bù SVC, STATCOM,… Từng bước hình thành hệ sinh thái công nghiệp điện lực trong nước với EVN đóng vai trò hạt nhân liên kết.

- Hình thành và đóng vai trò hạt nhân trong hệ sinh thái "Điện lực thông minh" nhằm dẫn dắt lĩnh vực KHCN và ĐMST trong ngành Điện lực Việt Nam. 

2.3. Định hướng cụ thể:

Hoạt động KHCN và ĐMST của EVN gồm các trụ cột sau: (i) Nghiên cứu khoa học; (ii) Nghiên cứu ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ trong các lĩnh vực hoạt động của EVN; (iii) Nghiên cứu phát triển sản phẩm KHCN. Cả 03 trụ cột này đều phải được gắn chặt với hoạt động chuyển đổi số. Hoạt động phát triển KHCN và ĐMST đến hết năm 2030 được định hướng với 04 nội dung sau:

- Định hướng về tổ chức quản lý và phát triển nguồn lực: (i) Tổ chức quản lý và phát triển nguồn lực về KHCN và ĐMST; (ii) Chuyển đổi số và ứng dụng, khai thác công nghệ trong quản lý; (iii) Sở hữu trí tuệ và tiêu chuẩn.

- Định hướng hoạt động phát triển KHCN và ĐMST trong các lĩnh vực ưu tiên: (i) Hoạt động phát triển KHCN và ĐMST trong hệ thống điện; (ii) Hoạt động phát triển KHCN và ĐMST trong Lĩnh vực nguồn điện; (iii) Lĩnh vực lưới điện truyền tải và phân phối.

-  Định hướng hoạt động nghiên cứu phát triển và chế tạo sản phẩm:

Lựa chọn một số sản phẩm/thiết bị thuộc Danh mục sản phẩm/thiết bị nội địa hóa và công nghệ chiến lược ngành Công Thương phù hợp với năng lực của Tập đoàn để chủ động sản xuất. Ưu tiên phát triển các sản phẩm/thiết bị có lợi thế cạnh tranh và có thị trường tiêu thụ lớn như thiết bị điện, năng lượng tái tạo và thiết bị phục vụ vận hành hệ thống điện, cụ thể là:  

+  Phát huy năng lực của các đơn vị chế tạo để sản xuất các thiết bị điện, trong đó ưu tiên tập trung vào các thiết bị cao áp (đến 500 kV) như máy biến áp, kháng điện, tụ bù, máy cắt..., đáp ứng tiêu chuẩn trong nước và quốc tế.

+ Hợp tác nghiên cứu và sản xuất các thiết bị đo lường thông minh, robot và thiết bị bay không người lái phục vụ vận hành lưới điện….v.v. 

+ Tham gia cùng với các đối tác phát triển, nội địa hóa một số thiết bị và hạ tầng kỹ thuật phục vụ xu hướng chuyển dịch năng lượng (như hạ tầng trạm sạc phương tiện giao thông điện và các thiết bị liên quan), phù hợp chức năng, nhiệm vụ và điều kiện thực tế của Tập đoàn.

+ Tạo điều kiện để các đơn vị chủ động tham gia toàn bộ chuỗi giá trị từ nghiên cứu, thiết kế đến chế tạo và thử nghiệm thực tế trong nội bộ Tập đoàn và/hoặc các đối tác ngoài Tập đoàn. Ưu tiên sử dụng sản phẩm trong nước đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, từng bước làm chủ sâu các công nghệ lõi và giảm phụ thuộc vào nhập khẩu.

- Định hướng hoạt động phát triển KHCN và ĐMST trong lĩnh vực khác gồm: (i) Nghiên cứu, ứng dụng và phát triển các sản phẩm KHCN hỗ trợ quản lý và sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, giảm phát thải; (ii) Nghiên cứu, ứng dụng các giải pháp công nghệ  phục vụ kinh tế tuần hoàn trong hoạt động điện lực, hỗ trợ công tác bảo vệ môi trường; (iii) Nghiên cứu và phát triển các công cụ phân tích dữ liệu và giải pháp số trong giám sát bảo vệ môi trường; (iv) Nghiên cứu và đánh giá các công nghệ điện lực mới trước khi thử nghiệm hoặc sử dụng trong hệ thống điện; (v) Nghiên cứu, thiết lập hạ tầng công nghệ để hình thành hệ sinh thái "Điện lực thông minh"; (vi) Gắn kết chặt chẽ việc thực hiện các định hướng hoạt động phát triển KHCN và ĐMST với việc triển khai các lĩnh vực có liên quan của Tập đoàn. 

III. Tổ chức thực hiện

- EVN và các đơn vị thành viên đẩy mạnh triển khai 57 nhiệm vụ KHCN, ĐMST, CĐS đã giao tại văn bản 2686/EVN-VTCNTT ngày 25/4/2025.

- HĐTV phê duyệt định hướng "Định hướng phát triển Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo đến năm 2030 của Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam" làm cơ sở thực hiện triển khai các chương trình KHCN, ĐMST.

- EVN nghiên cứu xây dựng lộ trình và các giải pháp về thực hiện quản trị doanh nghiệp minh bạch, tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, bám sát các nguyên tắc theo Hướng dẫn của OECD là cơ sở hoàn thiện các chương trình chuyển đổi số hướng đến "EVN thông minh".

TGĐU